Phân hệ Quản lý kế cấu hạ tầng giao thông (V-TIM) là giải pháp số hóa, quản lý toàn bộ cơ sở dữ liệu kết cấu hạ tầng giao thông trên nền tảng bản đồ số, phục vụ công tác quy hoạch, triển khai, duy tu, bảo dưỡng; đồng thời tích hợp với dữ liệu giao thông từ các hệ thống quản lý, phần mềm nghiệp vụ của Sở Xây dựng nhằm phục vụ công tác giám sát, điều hành. Hệ thống hỗ trợ công tác tổ chức giao thông, cung cấp công cụ đánh giá hiệu quả tổ chức giao thông.
Phân hệ Quản lý sự cố (V-IMS) giúp tổng hợp dữ liệu và thông tin từ nhiều nguồn trong lĩnh vực giao thông đô thị, hỗ trợ toàn diện các hoạt động: nhận dạng, xác thực và xử lý sự cố. Hệ thống cho phép điều hành và giám sát các tổ chức liên quan trong quá trình khắc phục sự cố, từ đó hỗ trợ lãnh đạo và cán bộ các cấp trong việc chỉ huy, quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ giao thông và năng lực điều hành đô thị.
Phân hệ Quản lý bãi đỗ xe (V-iParking) là nền tảng công nghệ số hỗ trợ kết nối, giám sát và quản lý toàn diện hoạt động vận hành các bãi đỗ xe trên địa bàn. Ứng dụng các công nghệ hiện đại như AI, IoT và Big Data, hệ thống giúp tối ưu hóa nguồn lực và chi phí trong công tác quản lý bãi đỗ xe theo từng khu vực.
Phân hệ cung cấp công cụ hỗ trợ cán bộ vận hành và nhà quản lý trong việc theo dõi, thống kê số lượng đơn vị khai thác và bãi đỗ xe cụ thể, từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động, làm cơ sở cho việc quy hoạch và phân bổ bãi đỗ phù hợp với hạ tầng và nhu cầu thực tế.
Phân hệ Quản lý giao thông công cộng (V-PTM) được xây dựng để hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý, giám sát, điều hành hoạt động của các đơn vị vận tải hành khách công cộng thông (xe buýt, metro,…), giám sát hoạt động của lái xe, lộ trình phương tiện di chuyển, thời gian di chuyển, đón trả khách đúng nơi quy định, hành vi vi phạm tốc độ,… ngoài ra hệ thống chia sẻ thông tin về trạm dừng, lộ tuyến, vị trí phương tiên công cộng cho người dùng theo thời gian thực.
Phân hệ Hỗ trợ xử lý vi phạm trật tự ATGT (V-TrafficID) được thiết kế nhằm phục vụ công tác xử phạt vi phạm giao thông, đặc biệt là xử phạt nguội, với khả năng trích xuất dữ liệu và báo cáo tự động.
Hệ thống thu thập và tổng hợp dữ liệu từ nhiều nguồn camera khác nhau, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích, nhận diện phương tiện vi phạm. Kết quả được cung cấp dưới dạng bằng chứng xác thực, hỗ trợ lực lượng chức năng và chính quyền địa phương trong việc giám sát, xử lý vi phạm, đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.
Chi tiết danh sách các tính năng Phần mềm giám sát và xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông – Viettel Traffic ID tại đây
Phân hệ Cung cấp thông tin giao thông (V-Connect) là ứng dụng giao thông thông minh dành cho người dân, cung cấp thông tin thời gian thực để hỗ trợ lập kế hoạch di chuyển an toàn, nhanh chóng và hiệu quả. Ứng dụng tích hợp nhiều tính năng như: xem camera trực tuyến, chỉ đường, bản đồ mật độ lưu lượng, tốc độ phương tiện, chất lượng đường, dữ liệu xe buýt, cảnh báo giao thông, tin tức VOV và các nội dung hướng dẫn hữu ích.
V-Connect hỗ trợ phát hành thông tin giao thông, điều kiện đường xá, biển báo, hướng dẫn di chuyển… lên các màn hình hiển thị công cộng, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin cần thiết, nâng cao trải nghiệm giao thông và chủ động lựa chọn lộ trình tối ưu.
Từ một công cụ hỗ trợ, công nghệ số đã trở thành "hạ tầng mềm" thiết yếu khi chuyển sang chính quyền 2 cấp, giúp việc cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp, người dân trở nên thuận tiện hơn, giảm tải cho cán bộ công chức khi mà khối lượng công việc tăng đột biến.

Sự thay đổi vai trò của công nghệ trong chính quyền 2 cấp
Nếu như trước đây người dân phải lên huyện, xuống xã để giải quyết thủ tục hành chính, thì nay mọi thứ đã thay đổi khi Việt Nam thực hiện cuộc cải cách bộ máy chưa từng có khi chuyển từ mô hình ba cấp (tỉnh - huyện - xã) sang hai cấp (tỉnh - xã/phường).
Sự thay đổi này tạo ra một thực tế mới: quy mô và khối lượng công việc tại cấp xã, phường được mở rộng gấp nhiều lần. Theo ông Dương Công Đức - Giám đốc Trung tâm Đô thị thông minh (IOC) Viettel Solutions, khoảng 85% các nhiệm vụ cung cấp dịch vụ hành chính công của quận huyện trước đây được chuyển xuống xã phường.
Đơn cử tại Hà Nội, cùng một quy mô dân số hơn 8,8 triệu người nhưng sau sáp nhập chính quyền thành phố chỉ còn quản lý trực tiếp gần 126 xã, phường thay vì 526 đơn vị cấp xã như trước. Điều này khiến mỗi xã/phường hiện nay gánh khối lượng công việc lớn gấp nhiều lần, đồng nghĩa mỗi ngày hệ thống phải tiếp nhận và xử lý số lượng giao dịch, hồ sơ và yêu cầu dịch vụ công từ người dân tăng vọt so với trước đó.
“Cũng vì thế, nếu vẫn giữ cách làm thủ công như trước, thì bốn chức năng cốt lõi của chính quyền là phục vụ người dân và doanh nghiệp, quản trị điều hành, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hoạch định tương lai sẽ trở nên bất khả thi”, ông Đức nhận xét.
Chính trong thách thức này, vai trò của công nghệ được khẳng định mạnh mẽ khi không còn là công cụ hỗ trợ rời rạc, mà trở thành "hạ tầng mềm" thiết yếu, là nền tảng sống còn để bộ máy vận hành. "Trước đây, chuyển đổi số giúp hỗ trợ một phần, nhưng bây giờ công nghệ thể hiện sức mạnh tuyệt đối trong việc hỗ trợ hoạt động của bộ máy chính quyền”, chuyên gia này cho biết.
Sức mạnh ấy thể hiện trước hết ở khả năng chuẩn hóa và tự động hóa toàn bộ quy trình nghiệp vụ giữa tỉnh và xã/phường. Nhờ đó, những thủ tục rườm rà được biến thành các luồng công việc số mượt mà. Dữ liệu được kết nối và chia sẻ liên thông thông qua 12 cơ sở dữ liệu quốc gia và 330 cơ sở dữ liệu ngành, xóa bỏ các “ốc đảo” thông tin.
Điều này giúp rút ngắn tối đa thời gian xử lý hồ sơ và phục vụ người dân ngay tại chỗ. Đồng thời, hệ thống cho phép giám sát, điều hành tập trung từ Trung tâm Điều hành Thông minh (IOC) ở từng tỉnh, thành phố nhưng vẫn có thể cá thể hóa dịch vụ theo đặc thù từng địa bàn.
Câu chuyện của Đà Nẵng
Trong số những địa phương ứng dụng công nghệ số thành công khi chuyển đổi sang chính quyền 2 cấp, Đà Nẵng là một ví dụ điển hình. Thành phố này không chỉ áp dụng công nghệ mà còn biến nó thành trợ thủ đắc lực trong quản lý và điều hành, tạo nên những kết quả ấn tượng mà trước đây khó có thể đạt được.
Thực tế, trước khi chuyển đổi sang chính quyền 2 cấp, Đà Nẵng cũng là một địa phương triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp thành phố và đã có 7 OC quận/huyện vận hành tốt trước đó. Bên cạnh đó, Đà Nẵng đã xây dựng được cơ sở dữ liệu tổng hợp, liên thông, đi kèm với sự sẵn sàng tối ưu các quy trình số phù hợp…
Tại thành phố này, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu cho lãnh đạo thành phố sử dụng IOC để giám sát, điều hành tỷ lệ giải quyết dịch vụ công ở địa phương. Theo đó, IOC giúp thiết kế các KPI (tổng số thủ tục, tỷ lệ đúng hạn, tỷ lệ chậm, vấn đề phát sinh) và theo dõi thi đua thông qua hệ thống.
Nhờ đó, lãnh đạo Đà Nẵng theo dõi được diễn biến hàng ngày ở từng trung tâm (đông hay không, tỷ lệ tồn cao hay thấp) để kịp thời điều phối nhân sự cũng như đưa ra các giải pháp phù hợp, nhanh chóng… Trước đó, tỷ lệ giải quyết dịch vụ công đúng hạn chưa cao và thông tin không được cập nhật kịp thời. Kể từ khi sử dụng IOC, tỷ lệ giải quyết dịch vụ công đúng hạn ở Đà Nẵng đã tăng lên rõ rệt: nhiều nơi đạt trên 90%, có nơi gần 100%.
Đột phá lớn nhất chính là mô hình hành chính công chủ động tại Đà Nẵng (mới), được triển khai thử nghiệm tại tỉnh Quảng Nam (trước khi sáp nhập hơn 2 tháng). Theo đó, hành chính công chủ động là một khái niệm hoàn toàn mới, nơi hệ thống tự động nhận biết nhu cầu của người dân và chủ động cung cấp dịch vụ.
Địa phương này đang triển khai 8 dịch vụ hành chính công chủ động tại 16 xã, phường. Các dịch vụ này gồm: Đăng ký khai sinh chủ động; Nhập học và làm hồ sơ nhập học chủ động; Gia hạn giấy phép hành nghề y tế; Gia hạn/cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch; Hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo; Gia hạn chứng chỉ hành nghề thú y, buôn bán thuốc thú y; Gia hạn/đổi phù hiệu kinh doanh vận tải; Hỗ trợ tổng hợp hồ sơ xây nhà và các dịch vụ liên quan.
Sự khác biệt về hành chính công chủ động có thể khiến rất nhiều người ở địa phương khác ngạc nhiên. Lấy ví dụ về dịch vụ đăng ký khai sinh chủ động, bắt đầu thí điểm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam. Nếu như trước đây, người dân khi sinh con phải mang giấy chứng sinh lên phường để làm giấy khai sinh. Giờ đây, sau khi bệnh viện cấp giấy chứng sinh, cha mẹ chỉ việc khai mỗi căn cước công dân (số định danh).
Sau đó, hệ thống của bệnh viện sẽ tự động kết nối đến cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và gửi tin nhắn đến số điện thoại của người bố hỏi về dự kiến đặt tên con. Sau khi đặt tên con và xác nhận bằng tin nhắn, hệ thống sẽ tự chuyển sang bên tư pháp hộ tịch để làm giấy khai sinh. Vài ngày sau, giấy khai sinh sẽ được gửi về tận nhà cho người dân.
Hiện tại, Đà Nẵng đang thí điểm triển khai 27 dịch vụ hành chính công chủ động. Sự mở rộng này không chỉ là con số mà còn khẳng định tầm nhìn khi công nghệ được tích hợp sâu và đồng bộ để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Từ đó, chính quyền hai cấp có thể phục vụ người dân chủ động thay vì bị động, biến thủ tục hành chính thành trải nghiệm số thực thụ.
Tại Lễ trao Giải thưởng "Tuổi trẻ sáng tạo toàn quốc" do Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức, sản phẩm mang tên Nền tảng quản lý dịch vụ phân tích video - IVA của nhóm tác giả trẻ tại Viettel Solutions đã được xướng tên, góp phần đưa Viettel trở thành đơn vị có số lượng công trình đạt giải nhiều nhất toàn quân. Thành tích này là kết quả của một tập thể Gen Y – Gen Z đang trực tiếp làm chủ những bài toán công nghệ lõi, thay vì chỉ tham gia vào các công đoạn triển khai đơn lẻ.
Đứng sau IVA là đội ngũ kỹ sư thuộc Phòng Thị giác máy tính và Xử lý hình ảnh, Trung tâm AI Viettel Solutions, do kỹ sư Thân Văn Quang (sinh năm 1995) làm Trưởng phòng, cùng các thành viên Lê Đại Dương (sinh năm 1993), Nguyễn Tùng (sinh năm 1999) và gương mặt Gen Z Lương Đức Long (sinh năm 2000). Một đội ngũ trẻ, nhưng đang đảm nhiệm các dự án quy mô lớn, phục vụ các bài toán quản lý đô thị, an ninh và an toàn xã hội.

IVA - “bộ não” AI cho hàng chục nghìn camera tại đô thị và khu công nghiệp
Theo kỹ sư Thân Văn Quang, có thể hiểu đơn giản IVA là một nền tảng phần mềm giúp biến các camera thông thường thành camera AI. Thông qua công nghệ trí tuệ nhân tạo, hệ thống có khả năng phân tích luồng video, tự động phát hiện sự kiện và đưa ra cảnh báo theo thời gian thực, hỗ trợ con người giám sát và ra quyết định hiệu quả hơn
Viettel IVA là một nền tảng tập trung cung cấp API/SDK về các dịch vụ phân tích video thông minh ứng dụng công nghệ AI/Deep Learning. Hệ thống cho phép tích hợp, quản lý và triển khai các mô hình AI (trí tuệ nhân tạo) phục vụ các bài toán nhận diện khuôn mặt, biển số xe, đối tượng, hành vi và các ứng dụng giám sát an ninh an toàn đô thị.
Viettel IVA được ví như “mắt thần" thu thập phân tích, xử lý hình ảnh cho các Thành phố thông minh và Khu công nghiệp.
Trong Thành phố thông minh, IVA tích hợp vào trung tâm điều hành IOC, giúp giám sát giao thông như vi phạm làn đường, vượt đèn đỏ, giám sát an ninh trật tự và cả các vấn đề môi trường như xả rác, lấn chiếm vỉa hè.
Tại các Khu công nghiệp, IVA hỗ trợ đắc lực để giải quyết nhu cầu lớn nhất về kiểm soát vào ra, thống kê lưu lượng nhân viên cũng như giám sát an toàn lao động, cảnh báo cháy nổ, giúp phòng tránh rủi ro cho hàng nghìn công nhân.
Hiện tại, Viettel IVA đã được triển khai rộng rãi tại các địa phương và đơn vị quan trọng, như ứng dụng nhận diện khuôn mặt và đặc điểm người tại Khu công nghiệp Hòa Khánh, ứng dụng giám sát an ninh tại Tỉnh Đắk Lắk, và trái tim của Trung tâm điều hành Đô thị Thông minh (IOC) TP Đà Nẵng,..
Khác biệt ở khả năng mở rộng và độ chính xác
Điểm khác biệt cốt lõi của Viettel IVA so với nhiều giải pháp trên thị trường nằm ở quy mô và khả năng mở rộng. Trong khi không ít sản phẩm chỉ hoạt động hiệu quả với vài camera riêng lẻ, IVA có thể xử lý dữ liệu từ hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn camera trong cùng một hệ thống đô thị.
Để đạt được điều này, đội ngũ kỹ sư đã giải quyết bài toán kiến trúc hệ thống có khả năng mở rộng theo chiều ngang, đồng thời đảm bảo giao tiếp thời gian thực với độ trễ thấp. Năng lực công nghệ của IVA từng được ghi nhận trên bình diện quốc tế, khi công nghệ nhận diện khuôn mặt của nền tảng Viettel IVA lọt Top 10 bảng xếp hạng khắt khe của Viện Tiêu chuẩn và Công nghệ Quốc gia Hoa Kỳ (NIST).
Trong giai đoạn tiếp theo, Viettel IVA không chỉ dừng lại ở vai trò giải pháp giám sát an ninh mà được định hướng phát triển thành nền tảng Computer Vision toàn diện, đóng vai trò hạ tầng lõi cho các bài toán phân tích hình ảnh – video của Tổng công ty. Nền tảng được xây dựng theo hướng hệ sinh thái AI thị giác thống nhất, bao gồm kho mô hình dùng chung cho nhiều bài toán khác nhau, dịch vụ triển khai và vận hành mô hình, cùng các API/endpoint chuẩn hóa, cho phép tích hợp linh hoạt với các hệ thống nghiệp vụ và ứng dụng bên ngoài, đáp ứng yêu cầu mở rộng, tái sử dụng và phát triển nhanh các ứng dụng AI thị giác trong thực tiễn.
Khi môi trường làm việc là bệ đỡ cho tinh thần "Dám làm, dám sai"
Trong bối cảnh thị trường lao động AI cạnh tranh gay gắt, các kỹ sư trẻ của team IVA hoàn toàn có thể lựa chọn làm việc cho các công ty công nghệ nước ngoài. Tuy nhiên, họ chọn Viettel Solutions bởi tầm nhìn dài hạn và cách tiếp cận khác biệt với vòng đời sản phẩm.
Thay vì áp lực lợi nhuận ngắn hạn, Viettel Solutions cho phép các nhóm kỹ sư trẻ làm chủ những bài toán công nghệ lõi. "Chúng tôi được tin tưởng giao phó để xây dựng sản phẩm từ gốc, được “sống chết” cùng đứa con tinh thần qua nhiều phiên bản nâng cấp, coi đó như một dự án startup thu nhỏ của chính mình trong lòng tập đoàn" – Quang chia sẻ.
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ về nguồn lực “khủng” cũng là một điểm cộng tuyệt đối. Để huấn luyện những mô hình AI phức tạp, Viettel đã đầu tư hệ thống máy chủ GPU mạnh mẽ cùng nguồn lực tài chính. Đây chính là “sân chơi” lớn với đầy đủ công cụ tối tân giúp các kỹ sư trẻ thỏa sức hiện thực hóa những ý tưởng đột phá nhất.
Trong thực tế, hành trình chinh phục công nghệ không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Có những giai đoạn sản phẩm đưa ra triển khai thực tế không đạt hiệu quả như trong phòng lab do điều kiện môi trường, hạ tầng khác biệt. Tuy nhiên, thay vì tạo áp lực, ban lãnh đạo Viettel Solutions lựa chọn đồng hành, cùng đội ngũ điều chỉnh và hoàn thiện sản phẩm.
Với những dự án đòi hỏi độ bảo mật và chính xác cao, việc giao phó trọng trách này cho một đội ngũ Gen Y và Gen Z là minh chứng rõ nét cho sự tin tưởng và trao quyền sự trao quyền của lãnh đạo Tổng công ty.

Môi trường quân đội với kỷ luật sắt tại Viettel cũng không mâu thuẫn với sự sáng tạo của những nhân sự Gen Z, Thân Văn Quang khẳng định. “Kỷ luật ở Viettel không đồng nghĩa với sự cứng nhắc. Ngược lại, đây là môi trường sẵn sàng cho thử nghiệm và chấp nhận sai sót. Để làm ra một sản phẩm AI hoàn thiện cần 1-2 năm, Viettel sẵn sàng cho chúng tôi khoảng thời gian đó để “thử và sai”, để điều chỉnh cho đến khi thành công” – Quang nói.
Bên cạnh đó, yếu tố giữ chân nhân tài tại Viettel Solutions không chỉ nằm ở thu nhập, mà là văn hóa đào tạo và chia sẻ. Tập đoàn thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu của các chuyên gia quốc tế. Văn hóa “người đi trước dạy người đi sau” trong nội bộ đã tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ.
Quang cũng cho biết, đối với lĩnh vực AI, Viettel đã định nghĩa lộ trình phát triển rõ ràng giúp mỗi kỹ sư có thể lựa chọn con đường phù hợp với năng lực và cá tính.
Đội ngũ Viettel IVA cho thấy người trẻ Việt Nam hoàn toàn đủ bản lĩnh làm chủ công nghệ lõi. Và Viettel Solutions, với văn hóa “Dám làm, Dám sai” và chiến lược dài hạn, đang đóng vai trò là bệ phóng nuôi dưỡng những thế hệ kỹ sư công nghệ tài năng tiếp theo của Việt Nam vươn xa.
Giai đoạn sắp xếp lại đơn vị hành chính và chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp đang đặt ra một áp lực khổng lồ lên các địa phương. Khối lượng công việc tăng vọt, sự thông suốt trong phục vụ người dân gặp thách thức, nhưng chính trong bối cảnh đó, một "thời điểm vàng" cho chuyển đổi số (CĐS) đang mở ra.

2 cặp “phát triển nghịch đảo" và áp lực của “người thợ” địa phương
Việt Nam đang trong giai đoạn cải cách hành chính mạnh mẽ nhất từ trước đến nay với việc sáp nhập tỉnh thành và tổ chức lại mô hình chính quyền. Đây được xem là một bước đi lịch sử, nhưng cũng đồng thời tạo ra những thách thức chưa từng có về mặt quản trị.
Chia sẻ tại chương trình ViettelDX Talks, chuyên gia của Cục Chuyển đổi số Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhận định công cuộc này tạo ra xung lực mới, động lực mới trong phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc tổ chức lại chính quyền địa phương chỉ còn hai cấp để giảm tầng nấc trung gian, phục vụ nhân dân tốt hơn lại đặt ra một bài toán khó.
"Nó đòi hỏi phải chuyển đổi số rất mạnh thì mới xóa nhòa được những khoảng cách về địa lý, về trình độ nhận thức để phục vụ được người dân ai cũng như ai, không ai bị bỏ lại phía sau”, ông này nói.
Chuyên gia Cục Chuyển đổi số quốc gia chỉ ra một thực tế mà ông gọi là những "cặp yêu cầu phát triển nghịch đảo".
Thứ nhất, khi tái cấu trúc, xu hướng là các Bộ sẽ tập trung vào tư duy chiến lược, nâng tầm phát triển đất nước. Những công việc hàng ngày, những công việc cụ thể phải phân cấp phân quyền về địa phương. Và trong khi gánh nặng dồn xuống vai "người thợ" địa phương, họ lại đối mặt với sự thiếu hụt về công cụ và nguồn lực.
Thứ hai, khi các Bộ lùi lại làm "kiến trúc sư" thiết kế nền tảng dữ liệu dùng chung , trao quyền vận hành trực tiếp cho địa phương, nếu không giải quyết được mâu thuẫn giữa phân quyền thực thi và tập trung dữ liệu, hệ thống sẽ "lệch pha", gây ách tắc dịch vụ công phục vụ người dân.
Cởi trói thể chế - Cánh cửa mở ra "Thời điểm vàng"
Giữa những thách thức đó, cơ hội lại mở ra nhờ sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ trong việc tháo gỡ các nút thắt thể chế. Chưa bao giờ hành lang pháp lý cho CĐS lại được khơi thông mạnh mẽ như giai đoạn đầu năm 2025.
Theo ông Dương Công Đức, Giám đốc Trung tâm đô thị thông minh Viettel Solutions: "Các doanh nghiệp nhận xét, giai đoạn này là thời điểm vàng của chuyển đổi số".
Hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật mang tính đột phá đã ra đời. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2025, Quốc hội và Chính phủ đã thông qua 16 dự án Luật, 4 Nghị quyết của Quốc hội và 21 Nghị định liên quan trực tiếp đến khoa học công nghệ và CĐS.
Đáng chú ý nhất là những tháo gỡ về tài chính và đầu tư. Luật Ngân sách Nhà nước 2025 lần đầu tiên ưu tiên riêng nguồn chi cho CĐS, và Luật Đầu tư công sửa đổi cho phép các tỉnh, thành chủ động sử dụng ngân sách địa phương để triển khai dự án số hóa thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào Trung ương. Đặc biệt, Nghị định 98/2025/NĐ-CP cho phép thuê dịch vụ công nghệ thay vì đầu tư hạ tầng, giúp tiết kiệm ngân sách và tăng tốc độ thực hiện.
Trong công tác đấu thầu, Luật số 90 và Nghị định 88 cũng mở ra hướng đi mới khi cho phép đánh giá theo hiệu quả và chất lượng công nghệ thay vì chỉ căn cứ vào giá thấp nhất. Điều này giúp loại bỏ tư duy "làm cho có", hướng tới các giải pháp thực chất và hiệu quả.
Về mặt dữ liệu – huyết mạch của CĐS – sự chia cắt cũng đang dần được xóa bỏ. Lãnh đạo Cục Chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh về Quy định số 05 của Ban chỉ đạo Trung ương về mô hình liên thông thống nhất: "Hiện nay việc phát triển dữ liệu đang đảm bảo liên thông, đồng bộ, xuyên suốt, thống nhất”.
Cú hích từ những "Sếu đầu đàn" công nghệ
Khi thể chế đã mở đường, vấn đề còn lại là ai sẽ cùng địa phương hiện thực hóa những mục tiêu này? Đây là lúc vai trò của những doanh nghiệp công nghệ "sếu đầu đàn" như Viettel trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Một lãnh đạo của Trung tâm Công nghệ thông tin Bộ Xây dựng, nhận định: "Đối với doanh nghiệp, việc đồng hành cùng các bộ ngành để giải quyết các bài toán về chuyển đổi số quốc gia giống như là một sứ mệnh chính trị". Lãnh đạo này cho rằng nếu không có các doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm và nguồn lực như Viettel, các bộ ngành sẽ rất khó để hoạch định ra được bức tranh tổng thể.
Viettel Solutions đã chứng minh vai trò "người đồng hành" không chỉ ở lời nói mà bằng những hành động cụ thể, giải quyết bài toán "nghịch đảo" về nguồn lực cho địa phương thông qua chiến lược ba mũi nhọn.
Thứ nhất, đồng bộ nhận thức và chiến lược. Viettel Solutions không chỉ cung cấp giải pháp mà còn tham gia đào tạo, truyền thông để thống nhất nhận thức từ Trung ương đến địa phương. Dựa trên khảo sát thực tế, đơn vị này tư vấn xây dựng chiến lược dữ liệu và lộ trình CĐS, giúp địa phương biết "lựa chọn cái gì là ưu tiên, cái gì là quan trọng, cái gì làm trước cái gì làm sau".
Thứ hai, cộng hưởng công nghệ và đảm bảo tính liên thông. Với vai trò là đơn vị xây dựng Khung kiến trúc Chính quyền số 4.0, Viettel Solutions đảm bảo các giải pháp tại địa phương tuân thủ Khung kiến trúc Chính phủ số Việt Nam, giúp kết nối thông suốt với các Bộ ngành. Đơn vị này cũng sẵn sàng kết nối cộng đồng công nghệ để tạo ra sức mạnh cộng hưởng, giải quyết các bài toán chuyên biệt.
Hiệu quả của sự hợp tác này đã được chứng minh qua thực tế triển khai tại hơn 34 tỉnh, thành phố, Viettel Solutions đã giúp nhiều địa phương tìm ra "lời giải" cho nỗi đau riêng của mình.
Đơn cử như tại Đà Nẵng, bài toán đô thị thông minh được giải quyết thông qua việc đưa tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính và cảnh báo ngập lụt thành chỉ tiêu điều hành. Hay tại TP.HCM là nền tảng quản trị thực thi, KPI hóa các chỉ tiêu điều hành.
Nhìn về giai đoạn 2025-2030, vị lãnh đạo của Bộ Xây dựng nhấn mạnh rằng địa phương không còn phải "mày mò" tự giải bài toán của mình một cách đơn lẻ: "Địa phương cũng sẽ thực hiện việc chuyển đổi số theo chương trình khung của quốc gia cũng như theo định hướng các chuyên ngành của các cái bộ ngành".
Tóm lại, chuyển đổi số tại địa phương trong bối cảnh mới không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà là sự cộng hưởng giữa quyết tâm chính trị, sự cởi mở của thể chế và năng lực của doanh nghiệp đồng hành. Đó chính là chìa khóa để biến những thách thức hiện tại thành cơ hội phát triển bền vững cho các địa phương.
Ông Dương Công Đức, Giám đốc Trung tâm Đô thị thông minh Viettel Solutions cho biết, chuyển đổi sang chính quyền 2 cấp là cơ hội rất lớn để chuyển đổi số phát huy sức mạnh tối đa khi chính quyền cung cấp dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp.
Cơ hội lớn của chuyển đổi số

Sau khi sắp xếp lại mô hình bộ máy chính quyền trên toàn quốc (chuyển từ ba cấp sang hai cấp), là một chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm tư vấn chuyển đổi số, ông thấy việc ứng dụng công nghệ số giúp các tỉnh/thành phố và xã/phường cung cấp dịch vụ công thay đổi ra sao?
Trước đây, chỉ có một số ít các dịch vụ công là cấp xã/phường cung cấp, còn lại quận/huyện và thành phố, nhưng giờ tập trung hoàn toàn vào xã/phường (bỏ cấp quận/huyện). Đây là thay đổi rất lớn và căn bản khi đất nước sắp xếp lại mô hình bộ máy chính quyền, chuyển từ ba cấp sang hai cấp.
Điều này dẫn đến quy mô của xã/phường lớn hơn rất nhiều so với trước đây, việc quản lý cũng trở nên rộng và phức tạp hơn. Ví dụ như ở Hà Nội, trước đây có 526 xã, giờ chỉ còn 126. Đi kèm với đó, mỗi ngày số lượng giao dịch, hồ sơ và yêu cầu dịch vụ công từ người dân đến một đơn vị xã/phường phải tiếp nhận và xử lý tăng vọt.
Ngoài khối lượng công việc tăng lên quá lớn, môi trường làm việc xa cách (từ phường/xã đến tỉnh/thành phố có thể cách hàng trăm km) khiến việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào cung cấp dịch vụ công trực tuyến là bắt buộc.
Trước đây, nhiều người chỉ thấy chuyển đổi số giúp hỗ trợ một phần, nhưng sau khi chuyển sang chính quyền 2 cấp, ứng dụng công nghệ và số hoá việc vận hành cho thấy sức mạnh tuyệt đối trong việc hỗ trợ quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp.
Ví dụ như với Trung tâm điều hành thông minh tại các tỉnh thành phố, trước đây chính quyền các cấp chỉ sử dụng được khoảng 20-30% công năng nhưng khi chuyển sang chính quyền 2 cấp, con số này có thể lên tới 70-80%.
Điều gì sẽ khiến việc cung cấp các dịch vụ công trực tuyến hậu sắp xếp bộ máy tại các xã/phường diễn ra thuận lợi, ít trục trặc?
Thực tế thì về mặt kỹ thuật, việc thay đổi cấu trúc tổ chức hay luồng công việc không phải là vấn đề lớn. Thay đổi quan trọng nhất là hệ thống phải phù hợp với các nghiệp vụ mới, hay phải tư vấn và thiết kế lại các quy trình nghiệp vụ trên môi trường số cho chính quyền 2 cấp. Ở đây, sản phẩm số rất linh hoạt nên quan trọng là người đặt hàng và yêu cầu thiết kế ra sao thôi.
Đây là giai đoạn rất quan trọng bởi rất nhiều cán bộ xã/phường chưa quen với việc vận hành các nền tảng, dịch vụ công trực tuyến. Trước đây, 85% công việc này được thực hiện bởi cấp quận/huyện, còn giờ được chuyển xuống xã/phường. Chính vì thế, hàng nghìn nhân viên Viettel phải luôn trực chiến sẵn sàng để ngay lập tức có người hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời khi cán bộ cần trợ giúp.
Ví dụ tiêu biểu và khái niệm mới về ‘Hành chính công chủ động’

Từ kinh nghiệm hỗ trợ vận hành chuyển đổi số toàn diện khi chuyển đổi sang chính quyền 2 cấp ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, ông có thể chia sẻ một ví dụ thành công tiêu biểu?
Tôi nghĩ đó là Đà Nẵng. Nhưng xin lưu ý là thành công này bắt nguồn từ việc Đà Nẵng đã triển khai thành công mô hình Trung tâm điều hành thông minh (IOC) cấp thành phố và đã có 7 OC quận/huyện vận hành tốt trước đó. Tuy nhiên, sự thành công của Đà Nẵng không chỉ nằm ở việc vận hành các Trung tâm điều hành thông minh. Yếu tố cốt lõi và mang tính nền tảng hơn chính là việc thành phố đã xây dựng được CSDL tổng hợp và liên thông giữa các Sở/Ban/Ngành một cách đồng bộ, tạo ra một nguồn dữ liệu tập trung, đáng tin cậy cho toàn bộ công tác quản lý và điều hành.
Bên cạnh nền tảng dữ liệu đó là sự sẵn sàng tối ưu hóa và số hóa toàn bộ các quy trình hành chính công phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp mới. Việc tối ưu quy trình này đã giúp chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là thay đổi căn bản cách thức vận hành bộ máy, từ đó giúp người dân và doanh nghiệp nhận được dịch vụ công một cách liền mạch và hiệu quả nhất.
Một ví dụ về ứng dụng thực tiễn của IOC tại Đà Nẵng là trong đợt ngập lụt năm 2023 và 2024. Lãnh đạo thành phố đã sử dụng IOC để điều hành: họ sử dụng hệ thống cung cấp bản đồ ngập úng, dữ liệu trực tiếp từ mạng lưới camera để đánh giá hiện trường, từ đó đưa ra các quyết định về phân luồng, di dời người dân và các phương án khắc phục. IOC đã giúp điều phối các bộ phận chuyên môn xử lý tốt việc thoát nước.
Một ví dụ khác ở Đà Nẵng là việc Sở Khoa học Công nghệ đã tham mưu cho lãnh đạo thành phố sử dụng IOC để giám sát, điều hành tỷ lệ giải quyết dịch vụ công ở địa phương. Theo đó, IOC giúp thiết kế các KPI (tổng số thủ tục, tỷ lệ đúng hạn, tỷ lệ chậm, vấn đề phát sinh) và theo dõi thi đua. Hệ thống này giúp lãnh đạo Đà Nẵng theo dõi được diễn biến hàng ngày ở từng trung tâm (đông hay không, tỷ lệ tồn cao hay thấp) để điều phối nhân sự cũng như đưa ra các giải pháp phù hợp, kịp thời… Kể từ khi sử dụng IOC, tỷ lệ giải quyết dịch vụ công đúng hạn ở Đà Nẵng đã tăng lên rõ rệt: nhiều nơi đạt trên 90%, có nơi gần 100%.
Khi chuyển đổi sang mô hình chính quyền 2 cấp, Đà Nẵng mở rộng mô hình IOC từ quận/huyện sang xã/phường, với các công năng được điều chỉnh để phù hợp với chức năng, nhiệm vụ mới. Điều này giúp giải quyết vấn đề làm việc từ xa giữa chính quyền tỉnh và xã/phường, làm cho việc điều hành công việc trở nên gần hơn về mặt nghiệp vụ. Các chỉ số cũng được thiết kế lại cho phù hợp với cấp xã/phường. Các bài toán về cung cấp dịch vụ cho người dân và doanh nghiệp được ứng dụng hiệu quả.
Hiện tại, Đà Nẵng đang trong giai đoạn mở rộng cho tất cả các phường/xã còn lại, khi sáp nhập với tỉnh Quảng Nam.
Ông có nêu ví dụ về một địa phương có dịch vụ hành chính công đem lại hiệu quả khác biệt nhờ chuyển đổi số?
Đó là 8 dịch vụ hành chính công chủ động được triển khai tại Quảng Nam, giờ là Đà Nẵng (mới).
Hành chính công chủ động là một khái niệm hoàn toàn mới, nơi hệ thống tự động nhận biết nhu cầu của người dân và chủ động cung cấp dịch vụ.
8 dịch vụ hành chính công chủ động đó gồm: Đăng ký khai sinh chủ động; Nhập học và làm hồ sơ nhập học chủ động; Gia hạn giấy phép hành nghề y tế; Gia hạn/cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch; Hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo; Gia hạn chứng chỉ hành nghề thú y, buôn bán thuốc thú y; Gia hạn/đổi phù hiệu kinh doanh vận tải; Hỗ trợ tổng hợp hồ sơ xây nhà và các dịch vụ liên quan.
Tôi xin lấy ví dụ về đăng ký khai sinh chủ động, bắt đầu thí điểm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam. Nếu như trước đây, người dân khi sinh con phải mang giấy chứng sinh lên phường để làm giấy khai sinh. Khai sinh xong lại phải làm các thủ tục để cấp bảo hiểm y tế cho con. Giờ đây, sau khi bệnh viện cấp giấy chứng sinh, cha mẹ chỉ việc khai mỗi căn cước công dân (số định danh) thôi.
Sau đó, hệ thống của bệnh viện sẽ tự động kết nối đến cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, tất cả hồ sơ của cha mẹ được lấy về. Hệ thống sẽ gửi tin nhắn đến số điện thoại của người bố hỏi: dự kiến đặt tên con là gì. Sau khi đặt tên con xong và xác nhận bằng tin nhắn, hệ thống sẽ tự chuyển sang bên tư pháp hộ tịch để làm giấy khai sinh và những hồ sơ liên quan. Vài ngày sau, giấy khai sinh sẽ được gửi về tận nhà cho người dân.
Hiện tại, Đà Nẵng đang triển khai thí điểm khoảng 27 dịch vụ hành chính công chủ động như vậy. Tất cả đều là những dịch vụ công có số lượng người sử dụng lớn nhất. Theo thống kê của chúng tôi, trong khoảng 2.000 dịch vụ hành chính công của tỉnh, chỉ cần chọn khoảng 5 đến 10% dịch vụ để tập trung triển khai thật tốt nhưng nhóm này lại chiếm đến 80-90% tổng số lượng giao dịch của người dân. Khi tập trung vào những dịch vụ này, các dịch vụ khác sẽ tự động được cải thiện sau.
Yếu tố đặc biệt thuận lợi cho thành công

Thời gian chuyển đổi sang chính quyền 2 cấp là rất ngắn với rất nhiều việc, đâu là những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi lớn cho việc ứng dụng công nghệ, triển khai chuyển số tại các địa phương, giúp tạo ra những điều tưởng như không thể như hành chính công chủ động?
Thuận lợi lớn nhất là chưa bao giờ có một sự vào cuộc về chuyển đổi số đồng bộ, tổng thể, toàn diện từ trên xuống dưới như bây giờ. Phải nói là trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt. Đặc biệt nhất, đây không phải chỉ hô khẩu hiệu, mà rất cụ thể ở các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 57 Trung ương: triển khai rất đồng bộ, toàn diện nhưng lại rất cụ thể và rất quyết liệt.
Bây giờ là một hệ thống thống nhất, một dữ liệu duy nhất và một dịch vụ liền mạch: Có 12 cơ sở dữ liệu quốc gia, 330 cơ sở dữ liệu ngành được thiết kế và giao cho các Bộ triển khai một cách rất đồng bộ. Trong mọi thiết kế bây giờ chúng tôi đều tính đến câu chuyện sáu yếu tố then chốt của chuyển đổi số (thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nền tảng, an toàn thông tin, nguồn lực) và câu chuyện cơ sở dữ liệu thống nhất từ Trung ương xuống địa phương.
Chuyển đổi số mà triển khai đồng bộ thì sẽ cùng một chuẩn, cùng một ngôn ngữ, cùng một giao tiếp và thuận lợi.
Thứ hai là về mặt cơ chế, vì chuyển đổi số cần kinh phí, cần nguồn lực. Việc ưu tiên kinh phí cũng được lãnh đạo các cấp rất ưu tiên.
Thứ ba là sự vào cuộc của toàn bộ bộ máy. Trước đây, giai đoạn đầu có thể chỉ có người hô hào. Giai đoạn tiếp theo chỉ có cán bộ công nghệ thông tin, tức là chuyển đổi số là việc của công nghệ thông tin. Nhưng bây giờ thì không thế. Chuyển đổi số là của tất cả mọi người, mọi người cùng tham gia vào. Khi có dữ liệu, nguồn lực, sự tham gia của tất cả mọi người và nhận thức, trình độ cũng được nâng cao rất nhiều thì việc triển khai chuyển đổi số sẽ thuận lợi dễ dàng.
Thêm vào đó, bây giờ Việt Nam cũng xây dựng được nhiều doanh nghiệp có tiềm lực, năng lực, và kinh nghiệm đầu tư phát triển trong lĩnh vực này. Nhà nước yêu cầu, doanh nghiệp lại đáp ứng được ngay thì đúng là hai bên gặp nhau có duyên. Khi hợp nhau, lại cùng tần số, anh em làm rất thuận lợi.
Chúng tôi không dùng từ ‘khó khăn’!

Khi phối hợp với các tỉnh, thành phố triển khai chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn chuyển sang chính quyền 2 cấp, những khó khăn mà Viettel gặp phải là gì?
(Cười) Ở Viettel, chúng tôi không dùng từ “khó khăn” mà gọi đó là những cơ hội. Chúng tôi coi tất cả khó khăn đều là thách thức và cơ hội. Cơ hội đầu tiên là làm sao để thuyết phục được các lãnh đạo tỉnh thành, xã phường muốn làm chuyển đổi số và thấy điều đó thực sự hiệu quả.
Ở giai đoạn này, người Viettel đóng vai trò tuyên truyền viên, góp phần thay đổi nhận thức và tốt nhất là đưa ra những bằng chứng, câu chuyện cụ thể đã triển khai thành công như kiểu vận hành IOC và hành chính công chủ động ở Đà Nẵng.
Cơ hội thứ hai là giải bài toán về nguồn lực cho chính quyền. Với con người thì khó có thể làm nhanh bởi các cán bộ công chức có trình độ khác nhau về công nghệ thông tin cũng như số hoá. Để giải quyết, Viettel tổ chức các khoá đào tạo về chuyển đổi số cho lãnh đạo tất cả các cấp ở nhiều tỉnh thành. Chúng tôi thậm chí mời về Học viện Viettel để đào tạo tập trung.
Cơ hội thứ ba là cần tìm cách phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong tỉnh, thành phố khi triển khai giải pháp, rồi kết nối các hệ thống và đồng bộ dữ liệu với nhau…
Cơ hội thứ tư là lúc đưa vào triển khai trong cuộc sống. Thực tế là 1-2 tháng đầu chúng tôi cũng khá căng thẳng. Khi chuyển sang chính quyền 2 cấp, công việc phục vụ hành chính công của các cán bộ chính quyền xã phường tăng vọt mà người thì ít đi. Chính vì thế, ngoài việc đã có giải pháp đúng, việc phải hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng, giúp các cán bộ giải quyết vấn đề là rất quan trọng.
Ví dụ như thời điểm gần 1/7, hơn 5.000 nhân viên của Viettel luôn sẵn sàng có mặt ở 3.321 xã phường để sẵn sàng hỗ trợ các cán bộ chính quyền từ những việc nhỏ nhất, để giúp hệ thống vận hành trơn tru. Sau giai đoạn đầu, mọi người đã quen với hệ thống thì vấn đề cũng như các trục trặc sẽ giảm dần
Trong bối cảnh phụ tải điện ngày càng tăng, việc dự báo dựa trên kinh nghiệm và công cụ thủ công khó đáp ứng nhu cầu vận hành lưới điện. Viettel Solutions ứng dụng AI kết hợp nền tảng dữ liệu thống nhất để xây dựng quy trình dự báo điện thương phẩm, giảm sai số dự báo xuống hơn 40% so với phương thức thủ công, xây dựng hệ sinh thái số, mở ra hướng đi bền vững cho ngành điện.
Dự báo phụ tải điện: Thách thức lớn từ dữ liệu và phương pháp truyền thống
Dự báo phụ tải điện được coi là một trong những bài toán khó của ngành điện. Chỉ cần lệch vài phần trăm, hệ thống có thể rơi vào hai tình huống trái ngược: thiếu điện dẫn đến cắt điện luân phiên, mất điện cục bộ và phải nguồn phát máy dầu với chi phí cao, hoặc dư điện khiến tổ máy chạy không tải, tăng chi phí nhiên liệu. Cả hai kịch bản đều tạo áp lực lớn lên điều độ, đặc biệt trong những ngày phụ tải biến động mạnh.
Theo Quy hoạch điện VIII, tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo (không bao gồm thủy điện) chiếm 28% - 36% vào năm 2030. Định hướng đến năm 2050 tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 74% - 75%. Việc dự báo thủ công phụ tải điện, công suất phát của nguồn năng lượng tái tạo ngày càng khó khăn để đáp ứng nhu cầu vận hành lưới điện.
Mặc dù tại nhiều đơn vị, sai số dự báo hiện tại đã ở mức tương đối thấp, nhưng phương pháp thủ công vẫn bộc lộ nhiều điểm yếu. Việc dự báo chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, dữ liệu lịch sử và các mô hình đơn giản như hồi quy tuyến tính hoặc trung bình động khiến công tác dự báo phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân, khó nắm bắt được các biến động phức tạp, phi tuyến tính của nhu cầu điện vốn chịu tác động mạnh từ thời tiết, tăng trưởng GDP, hành vi tiêu dùng và các yếu tố sự kiện đặc biệt. Song song với đó, khối lượng dữ liệu ngày càng lớn từ nhiều nguồn lại khó được xử lý đầy đủ và kịp thời.
Việc thu thập và phân tích dữ liệu cho một bản dự báo đòi hỏi nhiều thời gian và nhân lực, bởi kỹ sư phải ghép nối thông tin từ phụ tải 30 phút, dữ liệu thời tiết, báo cáo hiện trường đến các dữ liệu kỹ thuật. Khi phụ thuộc vào con người, dự báo dễ chậm hơn thực tế, số liệu lấy thủ công nhiều nguồn có sự can thiệp của con người thiếu tính tin cậy, tạo độ trễ trong điều độ và ra quyết định. Không chỉ vậy, phương pháp thủ công thường dựa trên những giả định cố định nên khó thích ứng với các biến động bất thường như thiên tai, thay đổi chính sách hay tăng trưởng đột biến trong tiêu thụ điện. Chính yếu tố con người cũng là nguồn gây sai lệch, bởi đánh giá nhu cầu đôi khi bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm chủ quan hoặc thiếu thông tin.

Điểm nghẽn lớn nhất lại nằm ở chất lượng và nền tảng dữ liệu. Ông Nguyễn Chí Linh - Phó Giám đốc Khối Khách hàng Doanh nghiệp Viettel Solutions chia sẻ kinh nghiệm từ các dự án thực tế: “Nhiều doanh nghiệp đang thiếu một chiến lược về dữ liệu, không xác định dữ liệu trọng yếu – là những dữ liệu mang lại phần lớn giá trị cho doanh nghiệp, lưu trữ dữ liệu tràn lan mà không thiết lập mức độ ưu tiên, thiếu một nền tảng quản trị dữ liệu để đảm bảo chất lượng dữ liệu – đây chính là nền tảng căn bản để mở rộng ứng dụng các mô hình AI và đưa ra các quyết định chính xác trong doanh nghiệp”.
Chính việc thiếu một chiến lược về dữ liệu như vậy dẫn đến việc thiếu các nguồn thông tin để dự báo phụ tải nói riêng và đưa ra các quyết định trong doanh nghiệp nói chung.
Trong bối cảnh phụ tải biến động theo giờ, tỷ trọng điện tái tạo tăng nhanh và thời tiết ngày càng khó dự đoán, việc dự báo dựa vào kinh nghiệm và dữ liệu từ file Excel - Những công cụ thô sơ là không đủ để đáp ứng diễn biến ngày càng nhanh của thời tiết và thị trường. Ngành điện cần một phương pháp dự báo dựa trên dữ liệu, được chuẩn hóa và cập nhật liên tục và hình thành bức tranh đa chiều cho việc ra quyết định. Từ đó, Viettel Solutions triển khai giải bài toán dự báo nói riêng và ứng dụng các mô hình AI nói chung bằng việc xây dựng lại cơ sở dữ liệu từ gốc.
Ông Nguyễn Chí Linh nhấn mạnh: “Để làm AI, chúng ta phải bắt đầu từ dữ liệu. Nếu AI như là bộ não thì dữ liệu giống như mạch máu, não có thông minh đến đâu nhưng phải có máu để nuôi thì mới có sức sáng tạo và đưa ra các quyết định chính xác nhất”. Theo đó, muốn ứng dụng AI vào dự báo, điều kiện tiên quyết không chỉ là mô hình, mà là chất lượng, sự phong phú của dữ liệu từ đầu vào.
AI và dữ liệu thống nhất nâng chuẩn dự báo phụ tải
Nhận diện rõ điểm nghẽn dữ liệu, Viettel Solutions tái thiết toàn bộ quy trình dự báo dựa trên nền tảng dữ liệu thống nhất. Tại dự án thử nghiệm ở Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), nền tảng AirData được triển khai để kết nối dữ liệu vận hành theo thời gian thực, từ phụ tải 48 chu kỳ, dữ liệu thời tiết theo giờ, số liệu kinh tế – xã hội, ngày đặc biệt đến lịch sử tiêu thụ theo khu vực, giúp loại bỏ bước ghép nối thủ công.
Trên nền dữ liệu đã được chuẩn hóa, Viettel Solutions huấn luyện các mô hình AI chuyên sâu như LSTM - là một mô hình mạng nơ-ron hồi quy (Recurrent Neural Network – RNN) đặc biệt, được thiết kế để xử lý và ghi nhớ thông tin trong chuỗi dữ liệu dài như văn bản, âm thanh, tín hiệu cảm biến, hay dữ liệu thời gian (time series), hay các mô hình lai, đồng thời liên tục kiểm định và tối ưu theo từng giai đoạn vận hành thực tế.
Kết quả cho thấy AI tạo ra sự khác biệt rõ rệt, tháng 6/2025, sai số dự báo của AI chỉ còn 3,59%, thấp hơn đáng kể so với mức 5,54% từ phương pháp truyền thống. Việc giảm gần 2% sai số không chỉ là một cải tiến kỹ thuật mà mang ý nghĩa chiến lược: điều độ dự báo sát hơn, còn mở ra khả năng tối ưu vận hành một cách chủ động và bền vững hơn trong tương lai.
Quá trình thử nghiệm cho thấy mô hình AI dựa trên LSTM kết hợp dữ liệu thời tiết đã đáp ứng tốt yêu cầu dự báo phụ tải với độ chính xác cao, đồng thời mở ra khả năng cải thiện toàn bộ quy trình dự báo hiện tại theo hướng tự động, nhanh và ổn định hơn. Việc áp dụng AI giúp giảm phụ thuộc vào phương pháp thủ công, hạn chế sai số do con người và tăng tính linh hoạt trước các biến động bất thường của nhu cầu điện.
Với mức độ cải thiện độ chính xác từ 35–45%, Viettel Solutions khuyến nghị mở rộng ứng dụng AI sang các lĩnh vực khác của ngành điện như dự báo công suất phát của năng lượng tái tạo dựa vào dữ liệu thời tiết, dự báo giá chào bán năng lượng tái tạo trên thị trường điện, hay bảo trì dự đoán cho nhà máy điện... Điều này sẽ giúp tối ưu chi phí, tăng độ tin cậy của lưới điện và hỗ trợ định hướng chuyển đổi năng lượng bền vững.
Hình thành hệ sinh thái dữ liệu – AI cho mô hình nhà máy điện số
Viettel Solutions không coi mô hình AI là đích đến. Theo ông Nguyễn Chí Linh, “AI chỉ phát huy hết tiềm năng khi dữ liệu đảm bảo đúng – đủ - sạch – sống và hạ tầng triển khai phù hợp”. Vì vậy, Viettel Solutions đã xây dựng Viettel Data Platform – trục dữ liệu thống nhất tích hợp dữ liệu vận hành (historians) từ SCADA, DCS đến dữ liệu IT trong doanh nghiệp (ERP, vật tư, lịch bảo trì và hồ sơ kỹ thuật). Nền tảng Viettel Data Platform tạo ra một nguồn dữ liệu liền mạch và minh bạch, đang được triển khai rộng rãi tại EVN, PVN và nhiều doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực ngân hàng, hàng không…

Việc chuẩn hóa dữ liệu giúp rút ngắn 50–80% thời gian tổng hợp báo cáo, đồng thời tạo nguồn dữ liệu sạch và liên tục cho mô hình AI tái huấn luyện hàng tuần hoặc hàng tháng. Các công cụ số hóa như OCR (nhận dạng văn bản), IPA (bóc tách dữ liệu) và Voice AI (chuyển giọng nói thành chữ) tiếp tục chuyển đổi tài liệu kỹ thuật, biên bản hay nhật ký vận hành về dạng dữ liệu có cấu trúc, giúp hoàn thiện kho dữ liệu và nâng cao chất lượng phân tích.
Khi nền dữ liệu được hình thành, các mô đun giám sát như APM Health (đánh giá “sức khỏe” thiết bị) và APM Reliability (theo dõi độ tin cậy, dự báo khả năng hỏng hóc) có thể phân tích tình trạng máy móc và cảnh báo sớm các rủi ro. Hay các hệ thống như Energy OMS (quản lý vận hành năng lượng) và VMS (giám sát vận hành nhà máy) giúp theo dõi tổ máy, sản lượng và các sự cố trên một giao diện duy nhất. Những điều này tạo ra hệ sinh thái dữ liệu – AI giúp nhà máy điện vận hành chủ động, giảm phụ thuộc vào kinh nghiệm cá nhân.
Qua đó, hệ sinh thái số của Viettel Solutions không chỉ giúp nâng độ chính xác của dự báo mà còn góp phần định hình lại cách ngành điện vận hành, từ hệ thống rời rạc sang một mô hình liền mạch, nơi dữ liệu là nền tảng và AI là công cụ tăng tốc. Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng cùng áp lực tối ưu chi phí ngày càng lớn, đây là hướng đi tối ưu để ngành điện tiến tới vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả hơn.
Là mô hình đại học hai cấp đầu tiên tại Việt Nam triển khai chuyển đổi số toàn diện, với định hướng chiến lược rõ ràng, quyết tâm mạnh mẽ của lãnh đạo nhà trường và sự đồng hành của Viettel Solutions, hệ sinh thái số của Đại học Thái Nguyên đang từng bước tạo dựng một mô hình quản trị tinh gọn, đào tạo linh hoạt và trải nghiệm học tập hiện đại dựa trên dữ liệu.
Kỳ nhập học “không giấy tờ” đầu tiên trong lịch sử Đại học Thái Nguyên
Năm học 2025-2026, tân sinh viên Đại học Thái Nguyên trải nghiệm nhập học hoàn toàn khác. Thay vì xếp hàng nộp hồ sơ giấy, các bạn chỉ cần vài thao tác trên ứng dụng TNU-ID: ảnh thẻ, thông tin cá nhân và minh chứng chính sách đã được số hóa trước, dữ liệu tự động đối chiếu, thẻ sinh viên in sẵn, lịch học hiển thị ngay trên tài khoản. Những sinh viên đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo hướng dẫn có thể hoàn tất thủ tục và nhận lịch học ngay trong ngày đầu tiên. Nhờ đó, sinh viên có thời gian tham quan trường, gặp gỡ thầy cô và tham gia các hoạt động chào đón.
Với hơn 21.770 chỉ tiêu tuyển sinh năm 2025, trong đó hơn 20.500 ở bậc đại học, mô hình nhập học “không giấy tờ” thể hiện quyết tâm của Đại học Thái Nguyên trong việc mang đến trải nghiệm hiện đại, nhân văn, đồng thời hỗ trợ sinh viên nhanh chóng ổn định đời sống học tập và ký túc xá.
Đây cũng là một trong những kết quả dễ thấy nhất từ hành trình chuyển đổi số toàn diện của Đại học Thái Nguyên, 1 trong 5 trường đại học 2 cấp trên cả nước.
Tái cấu trúc toàn diện để kiến tạo mô hình Đại học số
Đại học Thái Nguyên – với vai trò là đại học vùng lớn nhất tại khu vực trung du – miền núi phía Bắc – quản lý 07 trường đại học thành viên, 01 trường cao đẳng và nhiều đơn vị trực thuộc. Quy mô lớn, cấu trúc phức tạp, địa bàn trải rộng khiến bài toán quản trị, điều phối dữ liệu, tiêu chuẩn hóa quy trình và đảm bảo chất lượng DT
Nhận thức rõ yêu cầu đổi mới trong việc hiện thực hoá Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, PGS.TS Hoàng Văn Hùng, Giám đốc Đại học Thái Nguyên, cho biết: “Chuyển đổi số tại Đại học Thái Nguyên là một quá trình thay đổi toàn diện từ tư duy đến hành động, từ phương thức điều hành truyền thống sang môi trường làm việc số hóa, thông minh và kết nối. Không chỉ là việc số hóa học liệu, tự động hóa quy trình quản trị hay áp dụng các ứng dụng kỹ thuật số mà đó còn là quá trình tái hình dung phương thức lãnh đạo, giảng dạy, quản trị và nghiên cứu trên nền tảng công nghệ số”.
Theo thầy Hùng, với định hướng “lấy sinh viên làm trung tâm, giảng viên là hạt nhân”, Đại học Thái Nguyên tập trung từng bước chuyển đổi phương thức lãnh đạo & cơ chế chính sách, cách thức giảng dạy và học tập bằng ứng dụng công nghệ số để cá thể hóa quá trình giảng dạy, số hóa tài liệu, học liệu và tạo trải nghiệm học tập liền mạch ở mọi lúc, mọi nơi, trong môi trường học tập số thông minh, linh hoạt và an toàn.
Song song, nhà trường rà soát và chuẩn hóa chương trình đào tạo theo tiêu chí quốc tế, tăng cường năng lực số và khả năng thích ứng thị trường lao động. Các môn về AI, quản trị số, khởi nghiệp – đổi mới sáng tạo được tích hợp ở cả bậc đại học và sau đại học. Chương trình đào tạo được thiết kế mở, liên ngành và gắn kết doanh nghiệp, giúp sinh viên vừa vững chuyên môn, vừa thành thạo kỹ năng số.

12 tháng - Bước chuyển chiến lược xây dựng Đại học Thái Nguyên số
Là đơn vị đồng hành cùng Đại học Thái Nguyên trong hành trình chuyển đổi số toàn diện, ông Bùi Đình Thái, Đại diện Tổng Công ty Giải pháp doanh nghiệp Viettel (một thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội), cho biết quy mô triển khai chuyển đổi số của trường là đặc biệt lớn với hơn 100.000 sinh viên cùng hàng nghìn cán bộ, giảng viên. Đây cũng là trường đại học 2 cấp đầu tiên của Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện – điều chưa từng có tiền lệ.
“Các hệ thống cốt lõi triển khai toàn đại học từ hạ tầng số đến nền tảng ứng dụng, quản lý nghiệp vụ tích hợp cũng như công tác quản lý đào tạo, đều đòi hỏi phải liên thông, đồng bộ dựa trên dữ liệu. Việc số hóa dữ liệu, chuẩn hóa quy trình cho một lượng người dùng lớn như vậy với 10 nền tảng, tích hợp gần 5.000 chức năng trong thời gian chỉ chưa đầy một năm - thực sự là khối lượng công việc rất khổng lồ”, ông Thái cho biết.
Yếu tố tạo nên lợi thế lớn nhất trong quá trình chuyển đổi số của Đại học Thái Nguyên nằm ở sự đồng thuận và quyết tâm của đội ngũ lãnh đạo – giảng viên. Khi nhà trường đặt chuyển đổi số vào nhóm nhiệm vụ ưu tiên, toàn bộ quá trình triển khai trở nên liền mạch và đồng bộ.
“Điều ấn tượng nhất với tôi là sự quyết liệt của lãnh đạo Đại học Thái Nguyên, đặc biệt là Ban Giám đốc Đại học. Thầy cô có tầm nhìn và quyết tâm rất lớn trong việc xây dựng đại học số, liên tục chỉ đạo sát sao thông qua các cuộc họp định kỳ hàng tháng, hàng quý để rà soát tiến độ giữa đại học, các trường thành viên và Viettel”, ông Thái chia sẻ.
Ngoài việc làm chủ công nghệ, điều làm nên khác biệt là cách Viettel triển khai. Đội ngũ Viettel đi tới từng trường thành viên, từng đơn vị trực thuộc Đại học Thái Nguyênđể phối hợp, lắng nghe quá trình sử dụng thực tế nhằm điều chỉnh phần mềm cho phù hợp. Lực lượng nhân sự Viettel sẵn sàng hỗ trợ trực tiếp người dùng kể cả ngoài giờ và ngày nghỉ bởi thay đổi thói quen làm việc của hàng nghìn con người là yếu tố quyết định sự thành công của một dự án chuyển đổi số ở quy mô lớn.
Hiện tại, những nỗ lực ấy bắt đầu cho quả ngọt, với sự đồng hành của Viettel, Đại học Thái Nguyên đã hoàn thiện 10 hạng mục chuyển đổi số từ nền tảng quản lý hành chính tập trung gồm liên thông Trục Văn bản Quốc gia, quản lý nhân sự tiền lương; ERP (kế toán - tài sản - học phí), đến trục kết nối toàn đại học và kho dữ liệu dùng chung.
Khi mọi dữ liệu đã được liên thông, mọi quy trình được số hóa, ứng dụng sinh viên số (S-TNU) ra đời và trở thành một nền tảng duy nhất – nơi sinh viên Đại học Thái Nguyên học tập, rèn luyện, phản hồi và kết nối. Tất cả – chỉ trong một chạm.

Hành trình của Đại học Thái Nguyên cho thấy, khi quyết tâm đổi mới đi cùng đối tác công nghệ có năng lực đồng hành, một trường đại học hoàn toàn có thể tạo ra những bước phát triển mang tính đột phá. Đại học Thái Nguyên đang từng bước tiến gần hơn đến mục tiêu trở thành Đại học số và hướng tới Top 500 châu Á vào năm 2035.
Và ở phía sau, Viettel Solutions đang đóng vai trò là người bạn đồng hành chiến lược – không chỉ cung cấp nền tảng công nghệ mà còn góp phần định hình mô hình đại học số đầu tiên tại Việt Nam.